Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

VietinBank áp dụng lãi suất chỉ từ 10% cho vay mua nhà tại Vingroup

Từ nay đến hết 31/12, khách hàng vay vốn tại Ngân hàng Công thương Việt nam (VietinBank) để mua nhà dự án Khu đô thị sinh thái Vincom Village của Tập đoàn Vingroup sẽ được hưởng lãi suất ưu đãi chỉ 10%/năm cố định trong 6 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên.


Bài liên quan : <<  Ngân hàng habubank vượt qua khó khăn  >>
                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >> 

Trong 6 tháng tiếp theo, khách hàng sẽ được ưu đãi giảm lãi suất lên tới 5%/năm so với mức lãi suất cho vay tương ứng tại VietinBank. Hạn mức cho vay đến 70% nhu cầu của khách hàng với thời gian vay vốn tối đa là 20 năm.
Cùng với nhiều ưu đãi hấp dẫn trong chương trình “5.000 tỷ chung tay xây nhà mơ ước”, hướng tới các khách hàng có nhu cầu vay để mua nhà ở/nhận quyền sử dụng đất ở; vay xây dựng và sửa chữa nhà ở; vay mua nhà dự án thuộc danh mục của chương trình, VietinBank và Tập đoàn Vingroup vừa ký hợp đồng liên kết với cam kết đưa ra những hỗ trợ đặc biệt đối với khách hàng mua nhà tại 3 dự án lớn của Vingroup, bao gồm: Royal City, Vincom Village và Times City.
Đối với 2 dự án chung cư cao cấp Royal City và Times City, khách hàng ký hợp đồng và giải ngân trong cùng khoảng thời gian trên sẽ được hưởng lãi suất ưu đãi chỉ 12%/năm cố định tới 12 tháng và thời gian cho vay lên đến 15 năm.
Với hơn 40 dự án liên kết trên toàn quốc và dự kiến sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian tới, khách hàng sẽ có nhiều cơ hội để lựa chọn cho mình một căn nhà với mức giá hợp lý cùng nhiều ưu đãi hấp dẫn từ VietinBank và các đối tác liên kết trong chương trình “5.000 tỷ chung tay xây nhà mơ ước”.

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Ngân hàng đang 'xơi' 6% chênh lệch lãi suất?

Sau khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước định hướng lãi suất tiền vay ngắn hạn giảm về 15%/năm đã xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng, cần phải giảm lãi tiền vay ngắn hạn xuống 8%/năm, trung dài hạn 12%/năm.


Bài liên quan : <<  Ngân hàng habubank vượt qua khó khăn  >>
                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >>
 

Định hướng lãi vay 15%/năm, trong khi lãi tiền gửi chỉ 9%/năm của Ngân hàng Nhà nước đang dấy lên khúc mắc: ngân hàng đang "xơi" 6%/năm, trong khi doanh nghiệp phá sản hàng loạt. Thực hư con số này như thế nào?

Ngân hàng đang "xơi" 6%?
Theo phân tích của một chuyên gia ngân hàng, giả định trong số 100 đồng mà tổ chức tín dụng huy động kỳ hạn dưới 12 tháng, lãi suất 9%/năm thì theo Quyết định số 581/2003/QĐ-NHNN ngày 9/6/2003, mức trích lập dự phòng rủi ro VND kỳ hạn này phải là 3%; dự trữ thanh khoản 10%, còn 87%, hay 87 đồng.
Như thế, lãi suất thực của một đồng vốn huy động để cho vay ra chưa tính các chi phí khác là: 9% : 87% = 10,34% (1) và một khoản khác mà tổ chức tín dụng phải chi là dự phòng chung 0,75% trên mỗi đồng vốn huy động (2). Lấy (1) + (2), sẽ bằng 11,09%.
Ngoài ra, tổ chức tín dụng còn phải chi một loạt chi phí như: khấu hao tài sản đầu tư, thiết kế sản phẩm tiền gửi, thuê phòng giao dịch, đường truyền mạng, thông tin liên lạc, quảng bá sản phẩm... tiền lương, đều phải tính vào giá vốn và được phân bổ vào trong đó dù co kéo đến mấy thì khoản này cũng tương đương 1% đối với mỗi đồng vốn huy động được.

Tóm lại, chi phí thực tế trên mỗi đồng vốn mà tổ chức tín dụng huy động được lên tới 12,09% và so với lãi vay bị Ngân hàng Nhà nước "định hướng" là 15%/năm thì phần chênh lệch thực tế giữa huy động và cho vay mà ngân hàng thương mại giữ lại, tất nhiên chưa tính thuế thu nhập doanh nghiệp là 2,91% chứ không phải 6% như nhiều người vẫn đề cập.
So với các loại hình đầu tư khác, tỷ suất sinh lời trên một đồng vốn/năm chưa tính thuế thu nhập doanh nghiệp mà chỉ ở mức 2,91% là quá thấp.
Thứ hai, thêm một yếu tố không thể không tính đến là các khoản tiền gửi trước đây có kỳ hạn 3 - 4 tháng đã thỏa thuận lãi suất phải trả khách hàng là 12% - 13% - 14%/năm thì kể cả khi Ngân hàng Nhà nước áp trần lãi suất tiền gửi 9% thì ngân hàng thương mại cũng không thể điều chỉnh ngay xuống mức này.

Bởi lẽ, không một khách hàng nào chấp thuận yêu cầu đó, nhất là trong điều kiện khát vốn như thời gian qua, những khách hàng nắm giữ tiền tỷ trở lên thường xuyên so đo, mặc cả từng đồng với ngân hàng. Do vậy, ngân hàng thương mại vẫn phải trả lãi khoản tiền gửi đó như đã cam kết trong hợp đồng, sau đó mới có thể điều chỉnh giảm lãi theo yêu cầu hiện nay của Ngân hàng Nhà nước.

Chưa kể, trong hầu hết các hợp đồng tiền gửi hiện nay đều có kỳ hạn từ 1 - 3 tháng với lãi suất đầu vào bình quân trên 11% - 13%/năm, thậm chí có nhiều món lên tới 15%/năm, nhất là những ngân hàng yếu thanh khoản. Vậy nên, so với mức trần lãi suất tiền vay ngắn hạn 15%/năm, không gian để ngân hàng thương mại cân đối lời lãi là chật hẹp.
Thứ ba, ngoài các thành tố liên quan đến chi phí vốn như nói trên, trong quá trình hoạt động, mỗi một khoản tín dụng bắt đầu từ nhóm 2 đến 3,4,5 đều phải trích lập theo quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của Ngân hàng Nhà nước.

Như vậy, đủ thấy những ngày này, ngân hàng thương mại đang phải co kéo từng đồng để vừa duy trì hoạt động, vừa đạt chỉ tiêu lợi nhuận mà Hội đồng Quản trị đã ra nghị quyết cũng như giảm lãi suất tiền vay để chia sẻ khó khăn cùng doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nợ xấu toàn hệ thống đang ở mức rất cao.

Cơ hội của sàng lọc

Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, nguyên Phó vụ trưởng Vụ Kế toán Ngân hàng Nhà nước phân tích, nếu đặt câu chuyện giảm lãi suất trong các mối liên hệ với thị trường vốn sẽ thấy một vấn đề hết sức đáng lo ngại. Thị trường vốn Việt Nam hiện rất chông chênh do toàn bộ gánh nặng đều đổ dồn lên hệ thống ngân hàng.

Trước hết, do ngân hàng gánh vác toàn bộ chức năng thị trường vốn nên phần lớn các doanh nghiệp có hệ số tự tài trợ vốn quá thấp và không chịu nổi mỗi khi lạm phát bùng phát, Ngân hàng Nhà nước phải thắt chặt tiền tệ như từng diễn ra khá nhiều lần kể từ 2008 đến nay.

Điều này trái ngược hoàn toàn so với hệ thống ngân hàng các nước phát triển. Ở đó, không bao giờ ngân hàng cho vay doanh nghiệp khi mà hệ số tự tài trợ quá thấp như ở Việt Nam. Các quốc gia này xếp hạng doanh nghiệp rất cụ thể, rõ ràng và mức tài trợ cũng tương thích với sự xếp hạng đó theo nguyên lý: rủi ro càng cao thì lãi suất phải cao.

Hai là, nhiều năm gần đây, việc cấp phép thành lập doanh nghiệp quá dễ dãi, thiếu sự cân nhắc đã tạo ra sự tăng trưởng số lượng doanh nghiệp quá lớn trong một thời gian không dài, trong khi số doanh nghiệp có thực lực tài chính tốt không nhiều. Rất nhiều doanh nghiệp vốn tự có chỉ vài chục triệu nhưng vẫn cứ thành lập và khai vống vốn điều lệ lên, sau đó, tìm mọi cách chạy dự án và vay mượn ngân hàng hoặc bên ngoài.

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

BIDV triển khai sản phẩm tiền gửi Đại An

Từ ngày 10/07/2012, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) triển khai sản phẩm mới Tiền gửi Đại An bằng VNĐ (Việt Nam đồng). 


                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ  >>
 


Tiền gửi Đại An là sản phẩm huy động vốn dân cư kỳ hạn dài (kỳ hạn 24 tháng), bao gồm Tiền gửi Đại An Bình và Tiền gửi Đại An Phát.

Với tiền gửi Đại An Bình, khách hàng sẽ được hưởng mức lãi suất hấp dẫn trên thị trường, được cố định trong suốt kỳ hạn gửi 24 tháng và không bị ảnh hưởng bởi biến động thị trường. Trường hợp lãi suất biến động mạnh theo hướng bất lợi cho khách hàng, ngân hàng sẽ xem xét điều chỉnh để đảm bảo quyền lợi khách hàng. Nếu khách hàng không đến rút tiền khi đến hạn, BIDV sẽ chuyển tiền gốc và lãi sang sản phẩm tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng thông thường.

Với tiền gửi Đại An Phát, khách hàng chủ động hơn trong các kế hoạch tài chính của mình khi có thể gửi tiền theo các kỳ hạn bậc thang và hưởng lãi suất linh hoạt tương ứng theo kỳ hạn gửi tiền. Kỳ hạn cam kết gửi tiền Đại An Phát của khách hàng là tối thiểu 6 tháng và được rút gốc từng phần tối đa 5 lần đối với một khoản tiền gửi. Khi hết kỳ hạn cam kết và thời gian duy trì, nếu khách hàng không tới lĩnh số tiền gốc, BIDV sẽ chuyển toàn bộ gốc và lãi chưa lĩnh sang sản phẩm tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng thông thường.

Tùy theo nhu cầu của mình, khách hàng hãy lựa chọn tiền gửi Đại An Bình của BIDV để hưởng lãi suất cạnh tranh hoặc lựa chọn tiền gửi Đại An Phát linh hoạt với kỳ hạn gửi tiền bậc thang để chủ động được nguồn vốn của mình.
 

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

Ngân hàng tháng 3: Vượt trần lãi suất và tín phiếu ngân hàng nhà nước

NHNN hứa sẽ đảm bảo thanh khoản cho các TCTD đồng thời hút tiền về dưới hình thức phát hành tín phiếu, thị trường xuất hiện tượng vượt trần lãi suất tại các TCTD. 
 
Bài liên quan : <<  Ngân hàng Habubank Xóa Nợ Thành Công>>
                         <<  Ngân hàng Habubank Tự Tin Phát Triển>>
Trần lãi suất huy động: Chấp hành chưa nghiêm và còn nhiều quan điểm trái chiều
Kể từ ngày 13/3, NHNN điều chỉnh giảm 1% đối với các lãi suất điều hành trong đó trần lãi suất huy động giảm từ 14% xuống 13%/năm tuy nhiên, thị trường lãi suất huy động nóng trở lại với tình trạng mặc cả lãi suất tái xuất hiện gây rủi ro cho cả hệ thống và đe dọa đến mục tiêu giảm lãi suất của Chính phủ. Trước thực trạng chấp hành trần lãi suất không nghiêm, việc dỡ bỏ mức trần này vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều.
 
Tại phiên họp giữa Thủ tướng với hơn 30 chuyên gia tài chính ngân hàng ngày 25/3, nhiều chuyên gia cho rằng trần lãi suất nên dỡ bỏ càng sớm càng tốt để lãi suất trở thành giá vốn vận hành theo luật cung cầu; việc sử dụng các biện pháp hành chính sẽ gây méo mó thị trường và NHNN luôn phải luôn can thiệp vào thị trường.
 
Nhiều chuyên gia cũng cho rằng cần tiếp tục duy trì trần lãi suất huy động thêm một thời gian và cũng có chuyên gia đề nghị áp đặt biên độ lãi suất đầu ra và đầu vào là 3%. Tuy nhiên, theo NHNN hiện tại chưa phải là thời điểm thích hợp để bỏ trần lãi suất huy động và khả năng lãi suất huy động sẽ được thả nổi vào tháng 6.
Lãi suất cho vay: Chưa giảm như kỳ vọng
Tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế đã giảm hai tháng liên tiếp kể từ đầu năm và ước giảm 2,51% so với cuối năm 2011. Mặc dù các NHTM không ngừng đưa ra các ‘‘gói tín dụng’’ với lãi suất ưu đãi và cải thiện điều kiện cho vay song đối với doanh nghiệp và khách hàng cá nhân, lãi suất cho vay vẫn khó tiếp cận. Dù lãi suất huy động giảm xuống 13%/năm, nhưng nhiều khoản vốn huy động ít nhất là 14%/năm chưa đáo hạn nên lãi suất cho vay chưa thể giảm ngay như kỳ vọng. Theo NHNN, lãi suất cho vay phổ biến đối với lĩnh vực sản xuất - kinh doanh thông thường phổ biến ở mức 16,5-17%/năm (đối với khối NHTMNN) và 18-19% (đối với khối NHTPCP); cho vay lĩnh vực phi sản xuất 20-25%/năm.
Thị trường liên ngân hàng: Lãi suất giảm, doanh số giao dịch tăng mạnh
 
Lãi suất bình quân liên ngân hàng đối với tất cả các kỳ hạn đang có xu hướng giảm mạnh so với thời điểm đầu năm (biểu 1).  
Doanh số giao dịch qua đêm, giao dịch kỳ hạn 1 tuần và tổng doanh số giao dịch trong tháng 3 tăng mạnh so với các tháng trước đó (biểu 2).  Giao dịch kỳ hạn dưới 1 tháng vẫn chiếm tỷ trọng lớn tới86% tổng doanh số giao dịch. Trong khi nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thể tiếp cận được nguồn vốn thì lượng tiền lớn vẫn được cho vay trên thị trường này nhằm giải quyết thanh khoản và nhiều ngân hàng có thanh khoản tốt đang kiếm lợi nhuận từ tiền nhàn rỗi trên thị trường này.
 
Thị trường mở: Tiếp tục hút ròng
Trong tháng 3, NHNN tiếp tục hút một lượng tiền lớn (32.510 tỷ đồng) từ thị trường mở, trong đó 26.410 tỷ đồng là lượng tiền thu về từ việc phát hành tín phiếu. Lượng tiền NHNN bơm ra trong tháng 3 dưới phương thức ”Mua kỳ hạn” khá nhỏ giọt so với thời điểm trước Tết (27.276 tỷ đồng so với lượng tiền bơm ra đầu năm là 207.983 tỷ đồng). Điều này cho thấy khả năng nhiều ngân hàng nhỏ đang tìm đến thị trường liên ngân hàng, có lãi suất hấp dẫn hơn để vay mượn.
Tỷ giá: Ổn định trong biên độ.
Tỷ giá tiếp tục được NHNN giữ ổn định mức 20.828 đồng/1USD trong suốt 12 tuần qua. Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá giao dịch bình quân tiếp tục ổn định trong biên độ và khó có tăng đột biến mặc dù NHNN vừa ban hành Thông tư số 07/2012/TT-NHNN quy định về trạng thái ngoại tệ của các TCTD. Đột biến cũng không xảy ra trên thị trường tự do trong thời gian qua khi tỷ giá trên thị trường này tương đối sát với tỷ giá niêm yết tại các NHTM.
Diễn biến tỷ giá trên thị trường LNH, thị trường tự do và NHTM
Nguồn: NHNN, VCB, Reuteur
Minh bạch hóa thông tin về hoạt động tiền tệ và ngân hàng
Kể ngày 1/4/2012, Thông tư số 35/2011/TT-NHNN quy định việc công bố và cung cấp thông tin của NHNN bắt đầu có hiệu lực. Bên cạnh những thông tin tình hình diễn biến tiền tệ và ngân hàng; văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ, ngân hàng; chủ trương, quyết định điều hành của Thống đốc NHNN về tiền tệ và ngân hàng; NHNN cũng sẽ công bố 5 chỉ tiêu quan trọng của các NHTM theo chuẩn Quỹ Tiền tệ Quốc tế gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, dư nợ từng lĩnh vực trong tổng dư nợ, ROA (tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản) và ROE (tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu) cùng với các thông tin về việc thành lập, mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, giải thể, thu hồi giấy phép, chấp thuận mở rộng mạng lưới và xử phạt vi phạm hành chính đối với TCTD.
Tập trung hỗ trợ thanh khoản để bảo đảm khả năng chi trả của các TCTD
Trước thực tế là nhiều ngân hàng không chỉ khuyến mãi vượt luật, mà còn tăng lãi suất huy động vượt trần cho thấy thanh khoản của các ngân hàng chưa được xử lý dứt điểm. Để ổn định thị trường, khả năng NHNN sẽ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong hệ thống ngân hàng, xử lý mạnh tay, yêu cầu các ngân hàng thương mại cam kết. Mặt khác, có thể ngay trong quý II, NHNN sẽ tập trung hỗ trợ và giải quyết triệt để vấn đề thanh khoản để đảm bảo khả năng chi trả của các TCTD theo đúng lộ trình của đề án 254.